Về việc học
ngoại ngữ - Über das Sprachenlernen
Trích dịch từ
tự truyện của Heinrich Schliemann: Thời thơ ấu gian khổ
... Trong 5
năm rưỡi tôi làm công trong một cửa tiệm tạp hoá nhỏ tại Mecklenburg. Công việc
của tôi là đứng bán cá mòi, bơ, sữa, đường, muối, cà phê, dầu ăn, và các thực phẩm
khác. Tôi phải quét dọn cửa tiệm và làm những việc đại loại như thế. Từ 5 giờ sáng
đến 11 giờ khuya tôi không hở tay chút nào để ngó ngàng tới học tập. Do đó tôi quên
đi rất mau chóng những kiến thức đã học ở nhà trường. Tuy vậy, khoa học vẫn hấp
dẫn tôi. Trước mắt, tôi không có lối thoát nào mãi đến khi tôi được giải phóng ra
khỏi tình cảnh tồi tệ ấy như một phép lạ. Một lần vì phải nâng một cái bình quá
nặng nên tôi bị nội thương và thổ huyết. Từ đó tôi không thể làm việc tiếp được
tại cửa tiệm đó.
Trong cơn tuyệt
vọng, tôi cuốc bộ đến Hamburg, hy vọng kiếm được một chỗ làm khác. Cuối cùng tôi
cũng tìm được một chỗ làm với tiền lương hậu hĩ. Những cơn đau ngực dữ dội khiến
tôi không thể làm những việc nặng nhọc, và do vậy chẳng bao lâu tôi lại bị đuổi
việc. Sau đó tôi cũng bị đuổi việc thêm mấy lần. Cứ vào làm ở một chỗ mới không
đầy tám ngày là tôi mất chỗ làm. Thế rồi tôi tìm cách xin làm công trên một con
tàu. May mắn cho tôi là được nhận làm một chân sai vặt trên một chiếc thuyền buồm
nhỏ. Con thuyền này đang chuẩn bị đi Venezuela.
Chưa bao giờ
nghèo thế Tôi vẫn sống nghèo nhưng chưa có lúc
nào tôi nghèo như thuở ấy. Đến nỗi tôi phải bán đi một chiếc quần tây để mua một
cái mền len. Ngày 28 tháng 11 năm 1841, chúng
tôi rời Hamburg, thuận buồm xuôi gió. Nhưng sau vài tiếng đồng hồ thì gió đổi hướng
và chúng tôi phải neo lại suốt ba ngày trên sông Elbe, không xa Blankenese. Sau
đó, chúng tôi băng qua Cuxhaven và giong buồm ra biển khơi. Nhưng đột nhiên gió
đổi hướng về tây. Chúng tôi liên tục day trở buồm, nhưng thuyền không tiến lên được
mấy, thậm chí còn chao đảo. Thế rồi một cơn bão khủng khiếp đổ ập xuống và chúng
tôi bị đắm tàu. Sau muôn vàn nguy hiểm và sợ hãi, chúng tôi cả đội chín người tự
cứu nhau vào bờ. Chúng tôi không biết là dạt vào bờ biển nào, chỉ biết đó là một
đất nước xa lạ. Mãi sau này chúng tôi mới biết đó là nước Hà Lan. Viên lãnh sự tại
Hà Lan khuyên chúng tôi quay trở về nước Đức. Tôi từ chối lời đề nghị ấy. Thực tình
tôi không hề muốn quay lại cái nơi chốn mà tôi đã sống khổ ải cùng cực. Tôi giải
thích với mọi người rằng tôi muốn ở lại Hà Lan.
Tại thủ đô Amsterdam
của Hà Lan, tôi tìm được việc làm trong một phòng giao dịch thương mại. Công việc
của tôi là mang thư từ ra bưu điện và ngược lại. Công việc này làm tôi ưng ý vì
tôi muốn có nhiều thì giờ rảnh mà nghĩ đến việc học hành bấy lâu bị xao lãng. Trước hết tôi cố gắng rèn luyện để có một nét chữ viết
dễ đọc và đẹp mắt. Trong vòng 20 tiếng đồng hồ, tôi đã thành công. Sau đó tôi lao
vào việc học các ngoại ngữ hiện đại. Phân nửa tiền lương tôi dành cho việc học tập,
phần còn lại thì dành cho việc nuôi sống cần thiết. Chỗ ở của tôi là một căn gác
xép tồi tàn, không lò sưởi, mùa đông thì rét buốt như cắt, mùa hè thì nóng bỏng
như thiêu. Tôi chỉ ăn hai bữa. Bữa điểm tâm là một loại bánh bột mì, còn bữa trưa
không bao giờ đáng giá quá 16 xu. Nhưng không có gì thôi thúc tôi học tập cần cù
cho bằng niềm tin tưởng: qua những việc vất vả cực nhọc đó, tôi sẽ tự giải thoát
mình ra khỏi cảnh khốn cùng.
Tôi học ngoại ngữ như thế
nào?
Tôi lao vào
việc học tiếng Anh vô cùng chăm chỉ. Tôi có một phương pháp riêng và phương pháp
này giúp tôi học tập bất cứ một ngoại ngữ nào một cách dễ dàng. Phương pháp này
là:
Cố gắng đọc
thật to. Làm những phiên dịch nhỏ. Viết luận văn với sự sửa chữa trông coi của một
ông thầy. Sau đó học thuộc lòng các bài luận ấy và vài tiếng đồng hồ sau lại trả
bài. Trí nhớ tôi vốn kém, chẳng qua tôi không được rèn luyện từ nhỏ. Tuy vậy bất
cứ rảnh rỗi phút nào tôi cũng dành cho học tập. Luôn luôn tôi có một quyển sách
bên mình, để học một điều gì trong đó. Tôi học trong ngân hàng, tại bưu điện, mỗi
khi tôi phải chờ đợi. Tôi còn đi đến một nhà thờ của người Anh, lắng nghe các cha
cố giảng đạo bằng tiếng Anh rồi lẩm bẩm tự điều chỉnh cách phát âm tại đó. Trí nhớ
tôi dần dần mạnh mẽ hơn. Tôi có thể trả bài cho thầy giáo 20 trang giấy in bài văn
xuôi tiếng Anh đúng từng chữ một mà tôi chỉ cần đọc trước chỉ ba lần. Bằng phương
pháp này tôi học thuộc lòng hai quyển truyện tiếng Anh. Mỗi khi xúc động quá tôi
thường mất ngủ, tôi bèn đem bài vở học từ chiều ra xem lại. Tôi đã thành công, trong
vòng nửa năm tôi đã có một kiến thức vững chắc về tiếng Anh. Bằng phương pháp đó,
tôi chỉ mất sáu tháng là học xong tiếng Pháp. Trí nhớ tôi bây giờ mạnh mẽ đến nỗi
không đầy sáu tuần lễ là tôi có thể nói và viết lưu loát các tiếng Hà Lan, Ý, Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha. Tiếng Hi Lạp là ngoại ngữ thứ 16 của tôi.
Chắp cánh bay cao
Tuy vậy, tôi
vẫn thấy tiếng Nga khó vô cùng. Chẳng qua tại Amsterdam không có một giáo viên tiếng
Nga nào và không ai hiểu được tiếng Nga. Nhưng theo phương pháp của tôi, tôi chỉ
cần một người lắng nghe tôi. Tôi trả công cho một người nghèo với điều kiện mỗi
ngày anh ta đến chỗ tôi ở trọ, lắng nghe tôi nói tiếng Nga suốt hai tiếng đồng hồ.
Anh ta nghe mà không hiểu một chữ nào. Phương pháp nói lớn tiếng khiến chủ nhà khó
chịu và tôi phải đổi chỗ ở hai lần trong suốt thời gian học tiếng Nga. Sau sáu tuần
lễ, tôi có thể viết một lá thư thương mại đầu tiên bằng tiếng Nga. Vì tôi biết nhiều
ngoại ngữ, nhất là tiếng Nga, nên tôi được công ty phái sang nước Nga. Trong nhiều
năm tôi trở thành triệu phú và bây giờ tôi có thể tự cho phép mình từ bỏ mọi hoạt
động buôn bán mà chỉ nghĩ đến mục đích đời mình: đó là việc khai quật các di tích.
Từ Nga, tôi đi sang Mỹ. Ngân hàng đầu tiên tại Sacramento là của tôi. sau đó tôi
dọn về Athen (Nhã Điển), bắt đầu khai quật ngọn đồi Hissarlik vào năm tôi 48 tuổi...● Lê Anh Minh dịch từ tiếng Đức.
=================================
Cảm tưởng của học giả Nguyễn
Hiến Lê khi ông viết về Heinrich Schliemann trong quyển Gương Danh Nhân
«Con người đó thực
kỳ dị: sinh trưởng ở Đức, định đi lính cho Hoà Lan, rồi nhập tịch Huê Kỳ, làm giàu
ở Nga, học ở Pháp, nổi danh ở Hi Lạp, du lịch khắp phương Tây và phương Đông, có
lần ghé thăm Sài Gòn, và thông trên một chục thứ tiếng, vừa sinh ngữ, vừa cổ ngữ,
từ tiếng Anh, tiếng Pháp đến tiếng Hi Lạp, La Tinh, tiếng Ba Lan, Ả Rập...
«Kỳ dị hơn nữa là ông nuôi một cái mộng từ hồi tám
tuổi, rồi quyết chí làm giàu để có phương tiện thực hiện mộng đó, và khi đã thành
tỉ phú, tuổi đã gần năm mươi, mà không chịu hưởng cảnh an nhàn phú quý như người
khác, ông đem hết tất cả sản nghiệp, sinh lực ra để làm một việc mà nhiều người
cho là điên khùng, việc đào đất. Ông đào đất không phải để tìm mỏ đồng, mỏ sắt,
mà chỉ để tìm một cổ tích, tức di tích thành Troie, một thành ở bờ biển Tiểu Á.
«Rồi chẳng những ông tìm được di tích thành Troie
mà còn tìm được nhiều dấu vết của một nền văn minh cổ, nền văn minh ở miền biển
Egée (biển nhỏ phía đông Hi Lạp); do đó ông chép lại cho nhân loại được nhiều trang
cổ sử và nổi danh là nhà khảo cổ bậc nhất ở thế kỷ trước. Những tìm tòi của ông
và những người nối gót ông đã giúp cho sử học có tính cách khách quan hơn, khoa
học hơn. Về phương diện đó, công của ông với nhân loại không kém công của Fustel
de Coulanges, vị sử gia Pháp đồng thời với ông, người đã đặt nền tảng cho khoa sử
học hiện thời. [...] «Đọc tiểu sử Heinrich
Schliemann tôi thấy rằng hoàn cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn, hành vi con
người, nhưng con người cũng phải có đủ khả năng để tiếp nhận hoàn cảnh rồi sửa đổi,
có khi tạo thêm những hoàn cảnh mới nữa thì mới làm được những việc lớn. Schliemann
bẩm sinh đã có tánh yêu thích cái gì bí mật kỳ dị, cổ kính; nhờ sinh ra ở một miền
có nhiều cổ tích, lại nhờ thân phụ và người bạn gái (tên là Minna) khuyến khích,
lòng yêu thích đó phát triển mạnh mẽ thành một lòng ham mê nồng nhiệt, nhưng muốn
thoả mãn lòng ham mê đó, cần có hai phương tiện: học rộng và có nhiều tiền, nên
ông tạo ra những phương tiện này bằng cách vừa kinh doanh vừa tự học. Vậy ông vừa
được nhờ hoàn cảnh, vừa gây thêm hoàn cảnh.» [...] «...Thi hài ông đưa về Athènes,
vua Hi Lạp và các chính khách Đức, Anh, các nhà bác học khắp thế giới, hoặc lại
đưa đám, hoặc tỏ lời thương tiếc một người đã có công lớn với văn minh nhân loại.
«Công lớn đó, chính ông cũng không ngờ được. Cái
mộng của ông và nàng Minna hồi tám tuổi chỉ là tìm những di tích thành Troie khi
Ulysse qua đó xâm chiếm, những di tích của nền văn minh Hi Lạp cổ. Nhưng ông đã
đào được nền móng của sáu châu thành chồng chất lên nhau ở Troie mà ông chưa biết
rõ là ở những nơi nào. Non nửa thế kỷ sau, năm 1938, nhà khảo cổ C.W. Blegen đào
thêm được ở Troie nền móng ba châu thành nữa, thành thử trước sau, ở ngọn đồi Hissarlick
có hết thảy chín châu thành xây cất trong khoảng là ba mươi lăm thế kỷ, từ thời
đồ đá mài tới thời La Mã. «Không những vậy,
năm 1900, một nhà khảo cổ Anh, ông Arthur Evans, đào thấy ở đảo Crète nhiều cổ tích
chứng minh rằng nơi đó là trung tâm một nền văn minh mà ông Schliemann đã tìm được
ở Mycènes và Tirynthe, song không biết là nền văn minh nào. Nền văn minh đó là nền
văn minh Egée rất rực rỡ, có trước nền văn minh Hi Lạp khoảng ngàn năm, và làm trung
gian cho văn minh Ai Cập và văn minh Hi Lạp. Vậy nhờ Schliemann, nhờ đức tin mãnh
liệt, lòng kiên nhẫn vô biên của ông mà non hai ngàn năm cổ sử đã được chép lại
cho hậu thế. Khi hạ quan tài ông xuống huyệt, nhà khảo cổ Đức Dorpfeld, bạn cộng
tác của ông, chào ông lần cuối: 'Anh đã cần cù làm việc, xin chúc anh yên tĩnh nghỉ
ngơi.' Có bao nhiêu nguời đáng nhận một lời khen như vậy?»
Nguồn:
Nguyễn Hiến
Lê, Gương danh nhân, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2000, tr.12-14, 33-34.
Ghi chú:
Vì các nguồn tư liệu khác nhau, nên tên riêng của cùng
một nơi chốn hay cùng một nhân vật có thể được viết hơi khác nhau theo tiếng Anh,
tiếng Pháp, tiếng Đức, nhưng độc giả có thể so sánh và đoán được dễ dàng.
|
0 nhận xét:
Đăng nhận xét